Labradorite là một feldspar thuộc dãy plagioclase, có tỉ lệ canxi và natri nằm ở khoảng giữa dãy. Bên trong nó có những lớp mỏng xen kẽ của hai thành phần hơi khác nhau; ánh sáng phản xạ ở các lớp này giao thoa với nhau như trên váng dầu hay cánh bướm, tạo ra những mảng màu xanh, lục, vàng, cam loé lên trên nền đá xám tối. Hiện tượng đó gọi là labradorescence.
Vì ánh màu sinh ra từ phản xạ trên một hệ lớp phẳng, nó chỉ hiện khi mắt bạn nằm đúng hướng phản xạ, nghiêng vài độ là tắt. Bài này giải thích cơ chế đó, vì sao màu ánh cho biết độ dày lớp, labradorite nằm ở đâu trong họ plagioclase, spectrolite và các nguồn chính, và những đá xám tối có ánh khác dễ bị gọi chung là labradorite.
Labradorite nằm ở đâu trong họ plagioclase
Plagioclase là một dãy dung dịch rắn liên tục giữa hai đầu: albite, feldspar natri, và anorthite, feldspar canxi. Các nhà khoáng vật học chia dãy này thành từng đoạn theo phần trăm anorthite, và labradorite là tên đoạn có khoảng 50 đến 70 phần trăm anorthite. Nói cách khác, labradorite là plagioclase hơi nghiêng về phía canxi. Tên gọi lấy từ bán đảo Labrador ở Canada, nơi người châu Âu ghi nhận loại đá óng màu này vào khoảng cuối thế kỷ 18.
Labradorite có độ cứng khoảng 6 đến 6,5, tỉ trọng khoảng 2,68 đến 2,72 và chiết suất khoảng 1,56 đến 1,57, cao hơn đá mặt trăng một chút. Giống mọi feldspar, nó có cát khai hoàn toàn theo hai hướng, nên dễ tách khi va đập đúng hướng. Plagioclase còn hay có song tinh nhiều lớp, thể hiện thành những đường sọc mảnh song song trên mặt cát khai, một dấu hiệu nhận diện mà người mê khoáng vật hay tìm.
Trong tự nhiên, labradorite là thành phần chính của nhiều đá magma như gabro, bazan và đặc biệt là anorthosite. Phần lớn labradorite trong đá không có ánh màu; chỉ những khối nguội chậm trong điều kiện thích hợp mới hình thành cấu trúc lớp đủ đều để giao thoa. Vì vậy cùng tên labradorite, có mảnh xám trơn, có mảnh rực như lông công.
Labradorescence: giao thoa như váng dầu
Ở một số thành phần nhất định trong dãy plagioclase, hỗn hợp ban đầu không bền khi nguội chậm và tách thành những lớp xen kẽ của hai thành phần hơi khác nhau. Với labradorite, kiểu tách lớp này mang tên nhà khoáng vật học đã mô tả nó, gọi là cấu trúc mọc xen Bøggild. Các lớp có bề dày cùng cỡ với bước sóng ánh sáng nhìn thấy và xếp song song rất đều.
Khi ánh sáng chiếu vào, một phần phản xạ ở mỗi mặt phân cách giữa hai loại lớp. Các chùm phản xạ đi những quãng đường hơi khác nhau rồi gặp nhau. Ở một số bước sóng, chúng cộng hưởng làm màu đó mạnh lên; ở bước sóng khác, chúng triệt tiêu nhau. Kết quả là một màu bão hoà loé lên, giống hệt cơ chế tạo màu trên bong bóng xà phòng, váng dầu trên mặt đường ướt hay cánh một số loài bướm. Đây là màu cấu trúc, không có sắc tố nào cả.
Vì là giao thoa trên các lớp phẳng, ánh màu cư xử như phản xạ gương: nó chỉ đến mắt bạn khi góc tới bằng góc phản xạ so với mặt các lớp. Lệch khỏi góc đó vài độ, ánh tắt và nền đá xám tối lộ ra. Đó là lý do ánh labradorite xuất hiện đột ngột rồi biến mất, khác hẳn quầng ánh mềm, trôi rộng của đá mặt trăng vốn sinh ra từ tán xạ.
Vì sao chỉ một đoạn của dãy plagioclase có ánh màu
Nếu plagioclase nào cũng tách lớp khi nguội, đá granit và bazan quanh ta đã óng ánh khắp nơi. Thực tế không như vậy, vì sự tách lớp chỉ xảy ra ở một vài khoảng thành phần nhất định trong dãy albite tới anorthite. Giới khoáng vật học gọi chúng là các khoảng không trộn lẫn: trong những khoảng này, một plagioclase đồng nhất khi nguội đủ chậm sẽ tự chia thành hai pha có thành phần hơi khác nhau.
Sách khoáng vật học thường nêu ba khoảng như vậy. Khoảng gần đầu albite tạo ra peristerite, loại feldspar natri có ánh xanh mờ gần giống đá mặt trăng. Khoảng ở giữa dãy chính là khoảng Bøggild, nơi sinh ra labradorite có ánh màu. Khoảng thứ ba nằm về phía giàu canxi hơn và thường cho cấu trúc quá mảnh hoặc không đều để tạo ánh đáng kể. Ranh giới chính xác của từng khoảng còn được các tài liệu ghi hơi khác nhau, nhưng ý chung thống nhất.
Điều này giải thích hai chuyện bạn gặp ngoài đời. Thứ nhất, hai mẫu cùng được gọi là labradorite, một mẫu rực màu một mẫu xám trơn, có thể khác nhau chỉ vài phần trăm thành phần hoặc khác nhau về tốc độ nguội, đủ để mẫu này tách lớp còn mẫu kia không. Thứ hai, ánh màu là một sự kiện hiếm của quá trình nguội, không phải đặc tính sẵn có của tên khoáng vật, nên không thể đòi mọi viên labradorite đều phải lóng lánh.
Màu ánh nói gì về độ dày lớp
Màu loé lên phụ thuộc chủ yếu vào bề dày của các lớp: lớp càng dày, màu càng dịch về phía bước sóng dài. Bảng dưới là xu hướng chung để đọc một tấm labradorite; độ dày chính xác cần thiết bị chuyên dụng mới đo được.
| Màu ánh | Độ dày lớp tương đối | Mức thường gặp | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Xanh lam | Mỏng | Rất phổ biến | Màu đặc trưng nhất của labradorite |
| Xanh lục | Trung bình | Phổ biến | Hay đi chung với xanh lam trên cùng mảnh |
| Vàng, vàng đồng | Dày hơn | Khá phổ biến | Thường nằm thành mảng riêng |
| Cam, đỏ đồng | Dày | Ít hơn | Được nhiều người sưu tầm chú ý |
| Tím, tím hồng | Mỏng nhất hoặc tổ hợp | Hiếm | Thường chỉ là vệt nhỏ |
| Đủ dải màu trên một mảnh | Thay đổi theo vùng | Hiếm | Loại này hay mang tên thương mại spectrolite |
Một tấm labradorite thường có nhiều vùng với độ dày lớp khác nhau, nên một mặt có thể vừa xanh, vừa lục, vừa vàng. Ranh giới giữa các vùng màu đôi khi thẳng như kẻ chỉ, phản ánh ranh giới của các miền song tinh bên trong. Nhìn kỹ những đường thẳng này, bạn đang thấy cấu trúc tinh thể hiện lên qua màu sắc.
Vì sao chỉ sáng ở một góc: mặt ánh và cách thợ định hướng
Vì ánh màu chỉ hiện theo hướng phản xạ của các lớp, mỗi khối labradorite có một "mặt ánh" riêng. Thợ mài phải xoay khối thô dưới một bóng đèn để tìm hướng ánh mạnh nhất, rồi cắt sao cho mặt ánh song song hoặc gần song song với mặt sẽ được đánh bóng. Làm đúng, tấm labradorite sẽ loé màu khi người xem nhìn thẳng; làm sai, người xem phải nghiêng tấm đá ở một góc khó chịu mới thấy ánh.
Với tấm phẳng và cabochon, việc định hướng tương đối dễ. Với quả cầu, tượng và hạt tròn, bài toán khác hẳn: bề mặt cong theo mọi hướng nên chỉ một vùng nhỏ nằm đúng góc phản xạ tại mỗi thời điểm. Một quả cầu labradorite vì thế trông như có một mảng màu trôi trên bề mặt khi bạn xoay nó, trong khi phần còn lại xám tối. Đó không phải lỗi; đó là hình học của giao thoa trên bề mặt cầu.
Hiểu điều này giúp đánh giá công bằng khi xem hàng. Một tấm labradorite được chụp ở đúng góc ánh sẽ rực rỡ, nhưng ngoài đời bạn chỉ thấy màu đó khi đứng ở đúng góc. Với đồ treo tường, đồ để bàn, hãy nghĩ trước góc người ta thường nhìn nó. Một mảnh có ánh vừa phải nhưng hướng ánh trùng với góc nhìn tự nhiên đôi khi đẹp hơn một mảnh rực rỡ mà phải cúi người mới thấy.
Spectrolite, Madagascar và các nguồn labradorite
Labrador, Canada. Nơi đặt tên cho khoáng vật, vẫn là nguồn được nhắc trong sách giáo khoa. Labradorite từ khu vực này nổi tiếng với ánh xanh lam và xanh lục mạnh trên nền tối.
Phần Lan và tên spectrolite. Labradorite từ vùng đông nam Phần Lan có nền rất tối và ánh trải đủ dải màu, được bán dưới tên thương mại spectrolite. Về khoáng vật học, spectrolite vẫn là labradorite; cái tên chỉ dùng cho loại có dải màu rộng và nền đen sâu, thường gắn với nguồn Phần Lan.
Madagascar. Nguồn cung lớn cho tấm, quả cầu, đồ mỹ nghệ labradorite trên thị trường hiện nay. Chất lượng trải rộng từ mảnh xám ánh nhẹ tới mảnh rực màu, và đây là nguồn mà phần lớn hàng labradorite ở Việt Nam có khả năng đến từ.
Labradorite trong suốt, không có ánh. Ở một số nơi có labradorite trong vàng nhạt, mài giác như đá quý, hoàn toàn không có ánh màu. Nó cùng tên khoáng vật nhưng thiếu cấu trúc lớp, minh chứng cho việc ánh màu là chuyện cấu trúc chứ không phải thành phần.
Labradorite trắng. Labradorite gần như không màu, trong mờ, với ánh xanh hoặc nhiều màu, chính là thứ thị trường gọi là rainbow moonstone. Gọi đúng tên khoáng vật bên cạnh tên thương mại là cách trung thực nhất.
Đá xám tối có ánh khác: larvikite và những vật liệu bị gọi chung
Không phải đá xám tối nào có ánh xanh cũng là labradorite thuần. Larvikite là một loại đá magma từ miền nam Na Uy, chứa các tinh thể feldspar lớn có ánh xanh bạc, được dùng rất nhiều làm đá ốp lát và mặt bàn, và cũng được cắt làm hạt, quả cầu. Larvikite là đá, tức tập hợp nhiều khoáng vật, chứ không phải một khoáng vật đơn; ánh của nó thường là những đốm, mảng nhỏ rải rác chứ không thành mảng lớn liền như labradorite đẹp.
Trong chợ đá, các tên "labradorite đen", "đá mặt trăng đen", "đá Na Uy" có thể chỉ larvikite, labradorite nền tối hoặc feldspar khác. Không tên nào trong số này là sai hoàn toàn, nhưng chúng mập mờ. Nếu bạn cần biết chính xác, hãy hỏi người bán đó là khoáng vật đơn hay đá hỗn hợp, ánh nằm thành mảng hay rải đốm, và nhìn bề mặt dưới kính lúp để thấy các tinh thể riêng lẻ của đá hỗn hợp.
Ngoài ra còn có vật liệu được phủ màng mỏng để tạo ánh óng ánh trên bề mặt. Ánh của màng phủ nằm ngay trên mặt, hiện ở mọi góc và có thể trầy mất, khác hẳn ánh của labradorite sinh ra bên trong và chỉ hiện ở một góc. Chuyện xử lý phủ màng thuộc một chủ đề khác; ở đây chỉ cần nhớ dấu hiệu vật lý: ánh labradorite thật bật tắt theo góc, ánh màng phủ thì luôn có mặt. Trong quan niệm dân gian, labradorite đôi khi được gán ý nghĩa che chắn, đó là quan niệm văn hoá, không có bằng chứng khoa học.
Câu hỏi thường gặp
Labradorite có phải là đá mặt trăng không?
Không hẳn. Cả hai đều là feldspar, nhưng đá mặt trăng là feldspar kali còn labradorite là plagioclase giàu canxi. Ánh của đá mặt trăng là tán xạ mềm; ánh của labradorite là giao thoa màu mạnh. Riêng labradorite trắng thường được bán dưới tên rainbow moonstone.
Vì sao quả cầu labradorite chỉ có một mảng màu?
Ánh màu chỉ hiện ở hướng phản xạ của các lớp bên trong. Trên bề mặt cầu, tại mỗi thời điểm chỉ một vùng nhỏ nằm đúng góc đó, nên bạn thấy một mảng màu trôi khi xoay quả cầu. Phần còn lại xám tối là bình thường.
Spectrolite có quý hơn labradorite không?
Spectrolite là tên thương mại cho labradorite có nền rất tối và ánh trải đủ dải màu, thường gắn với nguồn Phần Lan. Về khoáng vật học nó vẫn là labradorite. Giá trị cao hơn hay không tuỳ chất lượng từng mảnh, không chỉ vì cái tên.
Ánh màu labradorite có phai theo thời gian không?
Ánh màu là màu cấu trúc sinh ra từ các lớp bên trong, không phải sắc tố, nên nó không phai vì ánh nắng. Thứ làm ánh kém đi là bề mặt bị trầy mờ hoặc bám bẩn, vì ánh sáng phải đi qua bề mặt mới tới các lớp. Đánh bóng lại thường khôi phục được.
Làm sao phân biệt labradorite với đá phủ màng óng ánh?
Ánh của labradorite thật chỉ hiện ở một góc hẹp và tắt khi nghiêng đá. Ánh của màng phủ nằm trên bề mặt, hiện ở hầu hết các góc và có thể bị trầy lộ lớp đá bên dưới. Soi kính lúp ở chỗ trầy hoặc mép lỗ khoan thường thấy rõ khác biệt.
Larvikite có phải là labradorite không?
Larvikite là một loại đá magma từ Na Uy, chứa nhiều tinh thể feldspar có ánh xanh bạc. Nó là đá hỗn hợp chứ không phải một khoáng vật đơn như labradorite, và ánh thường thành đốm nhỏ rải rác thay vì mảng lớn liền.